List truyện kinh dị đời thường
Chương 3: Dây buộc tóc hoa (1)

Cập nhật lúc: 2026-04-16 22:10:44 | Lượt xem: 3

Câu chuyện này tôi nghe được từ những người già trong làng kể lại.

Hồi những năm chín mươi, làng bên có cô vợ trẻ tên là Tú Chi. Tú Chi vốn là người nơi khác gả về đây. Cưới nhau chưa được bao lâu thì cô sinh được một cô con gái. Chồng Tú Chi đi làm ăn xa, mỗi năm cũng kiếm được kha khá tiền gửi về. Một mình Tú Chi nuôi con tuy có vất vả, nhưng được cái nhà chẳng bao giờ lo thiếu cái ăn cái mặc. Ngày lễ tết, cô còn mua được vài thước vải may quần áo mới, hay mua cho con gái chiếc váy hoa, nên cuộc sống cũng gọi là có chút dư dả, đầm ấm.

Thế nhưng trời có lúc gió mưa bất trắc, năm con gái Tú Chi lên năm tuổi, vận hạn ập đến, cô bé gặp phải một tai kiếp tà quái, suýt chút nữa thì mất mạng. Chuyện này phải bắt đầu kể từ cái giếng nước gần nhà cô.

Cái giếng ấy nằm dưới một gốc cây hòe già, là một cái giếng hoang đã bỏ phế từ lâu. Miệng giếng bị một tảng đá lớn đè c.h.ặ.t, cỏ dại mọc um tùm xung quanh, trông âm u đến rợn người. Ai đi ngang qua đó cũng thường cảm thấy sống lưng lạnh toát, không kìm được mà rùng mình một cái, càng làm cho cái giếng thêm phần ma quái, đáng sợ.

Điều khiến Tú Chi lấy làm lạ là người trong làng dường như rất kiêng kỵ cái giếng này. Vào những ngày hè oi bức, dân làng thường tụ tập dưới gốc cây hóng mát, rôm rả chuyện trò. Gốc hòe già bên cạnh giếng cành lá xum xuê, gió thổi mát rượi, là nơi lý tưởng để tránh nóng, vậy mà tuyệt nhiên chẳng thấy ai dám bén mảng tới đó ngồi hóng mát bao giờ.

Thỉnh thoảng có đám trẻ con trong làng lảng vảng chơi gần đó, người lớn nhìn thấy là sa sầm mặt mày, hốt hoảng gọi giật chúng ra một chỗ, rồi hạ giọng quát mắng một trận, cứ như thể dưới giếng có thứ gì đó đáng sợ chực chờ ăn thịt người vậy.

Tú Chi cũng từng hỏi chồng mình về lai lịch cái giếng, tại sao nó lại bị đá lấp kín như thế.

Chồng cô cứ ấp a ấp úng, nói quanh co, sống c.h.ế.t không chịu nói rõ sự tình, chỉ dặn đi dặn lại là cái giếng ấy rất tà, bảo cô tuyệt đối đừng bao giờ đi ra đó một mình.

Điều này càng khiến Tú Chi thêm tò mò, nhưng trong lòng cũng len lỏi nỗi sợ hãi mơ hồ, nghi ngờ dưới giếng thực sự ẩn chứa thứ gì đó kinh khủng lắm.

Bình thường Tú Chi chẳng bao giờ lại gần cái giếng ấy, có việc bất đắc dĩ phải đi ngang qua cũng cố đi đường vòng thật xa.

Nhưng gần giếng lại có một con sông nhỏ, phụ nữ trong làng thường ra đó giặt giũ. Đứng bên bờ sông, ngoảnh lại là thấy ngay cái giếng. Mỗi lần giặt quần áo, Tú Chi luôn cảm giác như có ai đó từ hướng cái giếng đang nhìn chằm chằm vào lưng mình, nhưng khi quay đầu lại thì tuyệt nhiên chẳng thấy gì cả.

Một hôm trời sương mù dày đặc, Tú Chi đang giặt quần áo bên sông thì cái cảm giác kỳ quái ấy lại ập đến. Cô không kìm được quay đầu nhìn về phía cái giếng.

Xuyên qua làn sương mù, cô lờ mờ thấy bên thành giếng có bóng người đang đứng. Cái bóng thấp bé, hình như là một đứa trẻ con, thoắt ẩn thoắt hiện trong màn sương. Khuôn mặt mờ ảo không nhìn rõ ngũ quan, có vẻ là một bé gái, trên đầu còn tết hai b.í.m tóc nhỏ.

Tú Chi giật mình kinh hãi. Trời sương mù thế này, con cái nhà ai lại ra đây chơi một mình, hay là…

"Này cháu ơi, sao lại đứng đó một mình thế? Người lớn nhà cháu đâu?" Tú Chi nén nỗi sợ hãi, cất tiếng gọi.

Đứa bé không phản ứng gì, vẫn đứng im lìm bên thành giếng, dường như đang nhìn cô chằm chằm. Tú Chi bắt đầu hoảng, tim đập thình thịch.

"Đứa trẻ bình thường sao gọi mãi không thưa nhỉ?" Tú Chi tự nhủ, hay là mình hoa mắt? Cô nuốt nước bọt, lấy hết can đảm bước chậm rãi về phía đứa bé, muốn nhìn cho rõ thực hư.

Khi cô xuyên qua màn sương đến gần cái giếng, đúng lúc một cơn gió thổi tan lớp sương mù trước mặt.

Phía sau màn sương trống không, chẳng có ai cả. Tú Chi thở phào nhẹ nhõm, thầm cười mình thần hồn nát thần tính. Cô vừa quay người định bỏ đi thì bỗng nghe thấy một âm thanh.

"Hi hi… hi hi…"

Đó là tiếng cười của một đứa trẻ con, non nớt và ngây thơ. Nhưng cái tiếng cười trong trẻo ấy vang lên giữa nơi âm u sương mù dày đặc này lại trở nên đáng sợ đến tột cùng.

Và tiếng cười ấy, dường như vọng ra từ sâu thẳm dưới lòng cái giếng đang bị tảng đá lớn bịt kín kia. Tú Chi sợ đến tê dại cả da đầu, cô vứt cả quần áo bên bờ sông, co giò chạy thục mạng. Chạy một mạch về đến nhà, tim cô vẫn còn đập loạn xạ vì kinh hoàng.

Từ đó về sau, cô càng thêm khiếp sợ cái giếng ấy, đến mức đi giặt quần áo cũng phải rủ người đi cùng.

Ngày con gái xảy ra chuyện, Tú Chi lại ra sông giặt đồ.

Mọi khi cô hay đi cùng cô vợ trẻ nhà hàng xóm, con gái thì gửi nhờ nhà đó trông hộ một lúc.

Nhưng hôm ấy nhà hàng xóm đi thăm họ hàng xa, Tú Chi đành phải dắt con gái theo ra sông.

Ai ngờ giặt xong quần áo, quay lại nhìn thì con gái đã biến mất tăm. Một đứa trẻ mới lên năm thì chạy đi đâu được chứ?

Cô cuống cuồng đi tìm. Khi tìm đến gần cái giếng, cô sững người, một linh cảm chẳng lành ập đến. Tảng đá lớn đè trên miệng giếng không biết đã bị ai hất văng ra từ lúc nào. Tảng đá ấy to và nặng đến vài trăm cân, người trong làng e là chẳng ai đủ sức xê dịch nổi, rốt cuộc là ai làm?

Không kịp suy nghĩ nhiều, Tú Chi lao đến bên miệng giếng nhìn xuống. Tim cô thắt lại đau đớn, con gái cô quả nhiên đã rơi xuống giếng. Nhưng may mắn thay, con bé chưa bị chìm hẳn, đang vùng vẫy trồi sụt trong nước. Cô hét lên bảo con gái đừng sợ, bám c.h.ặ.t lấy dây gàu múc nước, rồi bản thân chạy vội đi tìm người cứu giúp.

Nào ngờ dân làng ngày thường vốn thân thiết, vừa nghe con gái cô rơi xuống cái giếng dưới gốc hòe thì ai nấy đều biến sắc, tìm cớ thoái thác không chịu giúp.

Tú Chi vừa giận vừa lo, không hiểu mọi người bị làm sao.

Đang lúc dầu sôi lửa bỏng, may sao gặp đúng lúc gia đình hàng xóm đi thăm thân về.

Người chồng tên là Trụ Tử, chơi với chồng cô từ thuở còn cởi chuồng tắm mưa, coi nhau như anh em ruột thịt. Nghe tin con gái cô rơi xuống giếng, anh ta chẳng nói chẳng rằng, lao xuống giếng vớt con bé lên.

Cô bé được vớt lên cũng không khóc lóc gì, chỉ ngoan ngoãn đứng một bên nghịch cái dây buộc tóc hoa trên đầu. Tú Chi thấy con gái bình an vô sự thì yên tâm hẳn, rối rít cảm ơn Trụ T.ử rồi dắt con về nhà.

Nhưng điều Tú Chi không ngờ tới là chỉ vài ngày sau, con gái cô bắt đầu có biểu hiện lạ.

Con bé không còn thông minh, lanh lợi như trước nữa mà cả ngày cứ lờ đờ, ủ rũ, chỉ thích ngồi một mình bất động. Có lúc gọi cũng không thèm thưa, lại còn hay nhìn chằm chằm vào người khác, miệng lẩm bẩm những câu không ai hiểu nổi. Hành vi cử chỉ kỳ quặc, khác hẳn ngày thường.

Tú Chi nghĩ con gái bị ngã xuống giếng nên hoảng sợ, đã đi gọi hồn mấy lần nhưng chẳng ăn thua.

Cô lại đưa con đi khám bác sĩ, uống bao nhiêu t.h.u.ố.c thang bệnh tình không những không thuyên giảm mà ngày càng nặng thêm.

Có đêm con bé bỗng dưng ngồi bật dậy, nghiêng đầu nhìn mẹ chằm chằm khiến Tú Chi bao phen sợ mất mật.

Bệnh tình con gái mãi không khỏi khiến Tú Chi ngày nào cũng ủ dột, lo âu. Chuyện này chẳng bao lâu đến tai hàng xóm. Bà cụ nhà bên lén bảo cô rằng cái giếng con bé ngã xuống ấy tà khí nặng lắm, e là con bé mắc phải bệnh âm rồi (bệnh do tà ma gây ra). Bà khuyên cô nếu cùng đường thì hãy ra khỏi làng, đi về phía nam ba mươi dặm, đến thôn Nhị Đạo Pha tìm một người tên là Cô Lý. Cô Lý này chuyên xem sự, hay còn gọi là bà đồng, nghe đồn xem việc rất linh nghiệm.

Tú Chi lúc này cũng chẳng còn cách nào khác, bèn dắt con gái đi tìm Cô Lý.

Nhà Cô Lý không lớn, nhìn bên ngoài cũng bình thường như bao nhà nông khác, trước cửa còn treo mấy bắp ngô phơi khô.

Vào đến sân, thấy giữa sân đặt một cái lư hương, tro hương đã dày một lớp. Trong nhà khói hương nghi ngút, Cô Lý đang thắp hương khấn vái.

Cô Lý trạc năm sáu mươi tuổi, tướng mạo cũng chỉ là một người phụ nữ nông thôn bình thường, chẳng có gì khác lạ. Thấy có người đến, bà ta khách sáo rót chén nước nóng đưa cho Tú Chi, bảo cô ngồi xuống nghỉ chân, có chuyện gì cứ từ từ nói.

Tú Chi vừa uống nước vừa kể lại sự tình của con gái. Cô Lý nhìn đứa bé, vạch mắt nó ra xem, thấy trong mỗi con mắt đều có một vệt m.á.u đỏ, sắc mặt bà ta dần trở nên nghiêm trọng.

Thấy Cô Lý biến sắc, tim Tú Chi thót lại, vội hỏi con mình bị làm sao. Cô Lý bảo đứa bé này bị "xích đồng" (mắt đỏ), trong mắt có vệt m.á.u, xem ra đúng là bị thứ dơ bẩn vồ phải, mắc bệnh âm rồi.

Tuy nhiên, Cô Lý ngừng một lát rồi nói tiếp: "Cũng không đáng ngại lắm, chuyện này tôi gặp nhiều rồi. Cô cứ làm theo lời tôi dặn thì con bé sẽ không sao."

Cô Lý bảo Tú Chi mau về nhà tìm một con gà trống già nuôi trên năm năm, dùng kim châm vào mào gà, lấy vài giọt m.á.u nhỏ lên hai vai và trán của con gái, rồi tối đến khi đi ngủ thì thả con gà trống vào trong phòng.

Cô Lý giải thích, trên người con người có ba ngọn lửa dương (tam hỏa), nằm ở hai vai và trán, có tác dụng xua đuổi tà ma, khiến những thứ dơ bẩn không dám lại gần. Nhưng những người ốm yếu, hoặc người già, trẻ nhỏ, phụ nữ thì dương khí không đủ, lửa dương yếu ớt nên dễ bị tà ma nhòm ngó, nhập vào người gây bệnh âm.

Gà là loài gia cầm gáy gọi mặt trời, khắc chế âm tà nhất, nên mới có câu "gà gáy phá âm". Máu mào gà lại là thứ thuần dương chí cương, chứa đầy dương khí. Nhỏ m.á.u gà lên hai vai và trán cũng giống như châm thêm dầu vào đèn, giúp ngọn lửa dương cháy vượng hơn.

Thứ dơ bẩn kia ở trong người con bé bị ba ngọn lửa dương thiêu đốt suốt một đêm, không c.h.ế.t cũng trọng thương. Sáng sớm hôm sau gà trống bất ngờ gáy vang một tiếng, dù là tà ma lợi hại đến đâu cũng sẽ bị dọa cho vỡ mật, hồn xiêu phách lạc.

Nghe Cô Lý nói vậy, Tú Chi mới tạm yên lòng. Ở nông thôn thời ấy, nhà nào chẳng nuôi vài con gà, gà trống năm năm cũng chẳng phải của hiếm. Tú Chi tìm được một con, làm theo lời Cô Lý lấy m.á.u gà, nhưng đến lúc nhỏ lên người con gái thì xảy ra chuyện lạ.

Giọt m.á.u gà vừa rơi xuống, xèo một tiếng liền hóa thành làn khói, hệt như nước nhỏ lên nắp lò nung đỏ rực, bốc hơi ngay lập tức không để lại chút dấu vết nào. Cô nhỏ liên tiếp mấy lần đều như vậy. Máu gà lấy đến ba bốn lần, con gà trống đau quá chạy loạn xạ, chẳng còn vẻ oai phong lẫm liệt lúc đầu.

Tú Chi chẳng biết thế có bình thường không, cứ cố nhỏ thêm vài lần nữa lên vai và trán con gái, thấy cũng tàm tạm rồi mới dỗ con ngủ. Còn bản thân cô thì trằn trọc gần như suốt đêm, chỉ mong trời mau sáng, mong con gái mau khỏi bệnh. Gần đến canh năm, cô mới mệt quá thiếp đi, lúc tỉnh dậy thì mặt trời đã lên cao ba sào.

Cô vội vàng nhìn sang con gái xem thế nào, thì thấy con bé đang ngồi xổm dưới đất làm gì đó. Cô bước lại gần, cảnh tượng trước mắt khiến cô rùng mình ớn lạnh, suýt chút nữa thì bỏ chạy ra khỏi cửa.

Trên tay con gái cô xách con gà trống già, cổ con gà đã bị vặn gãy, đầu rũ xuống, m.á.u gà tong tỏng nhỏ xuống đất lênh láng.

Con bé cứ xách con gà như thế, đôi mắt trân trân nhìn Tú Chi, miệng cười khanh khách, tiếng cười khiến da đầu cô tê dại. Tú Chi vừa sợ vừa lo. Thấy con gái ra nông nỗi này, tính mạng đang bị đe dọa, cô chẳng còn tâm trí đâu mà sợ hãi nữa, giằng lấy con gà c.h.ế.t ném đi, rồi dắt con gái đi tìm Cô Lý lần nữa.

Nghe Tú Chi kể lại sự tình, mặt Cô Lý biến sắc ngay lập tức. Bà ta bảo cái thứ trên người con bé này, đến cả gà gáy sáng cũng không sợ, quả không đơn giản chút nào! Xem ra dùng cách thông thường không xong rồi, chỉ còn cách cho con bé nhận cha nuôi thôi.

Cô Lý bảo, con bé sở dĩ bị thứ dơ bẩn ám vào, ngoài việc bản thân yếu ớt, còn do không có tổ tiên che chở. Thường thì con cháu các dòng họ lớn, hay con em thế gia, ngày lễ tết việc quan trọng nhất là cúng bái tổ tiên. Tại sao con cháu thế gia lại coi trọng việc tế tổ đến thế? Bởi họ biết, khi gia tộc gặp tai ương hoạn nạn, ắt có tổ tiên trấn giữ, thay con cháu gánh vác tai ương, giải trừ vận hạn, nên nhiều danh gia vọng tộc mới hưng thịnh được lâu đời.

Còn những gia đình bình thường lại hay lơ là chuyện này, không thờ cúng bài vị tổ tiên, cắt đứt liên hệ với người xưa, nên không được hưởng phúc ấm tổ tiên, không được người xưa phù hộ, gặp tai ương hoạn nạn tự nhiên chẳng có ai ra tay giúp đỡ.

Hơn nữa, phúc ấm tổ tiên cũng là do các đời trước tích đức hành thiện mà có, phúc báo ấy sẽ để lại cho con cháu đời sau, giúp con cháu vận khí hanh thông, tránh được tai họa, tà ma không dám xâm phạm.

Cho đứa bé nhận một người có phúc khí làm cha nuôi, cũng chính là tìm cho nó một chỗ dựa, mượn phúc khí của người ta để hóa giải điềm dữ, nhờ tổ tiên nhà người ta che chở cho đứa bé được an toàn.

"Nhưng mà," Cô Lý nhíu mày nói tiếp, "tình trạng con gái cô thế này, e là nhận người thường làm cha nuôi cũng vô dụng, chỉ có thể tìm 'người đó' thử xem sao."

Tú Chi vội hỏi "người đó" là ai, Cô Lý không nói rõ, chỉ đưa cho cô một bát cơm trắng và một đôi đũa, rồi xin ngày sinh tháng đẻ của đứa bé, khắc lên một chiếc khóa trường mệnh.

Bà dặn Tú Chi cầm những thứ này ra khỏi làng, đi theo con đường đất hướng tây, đi khoảng hơn hai mươi dặm, lúc đó trời cũng sẩm tối, sẽ thấy một ngôi làng hẻo lánh. Vào làng đi một đoạn không xa, sẽ thấy một cây hòe lớn bị lột vỏ, phía sau cây hòe chính là nhà của người đó.

"Cô cắm đôi đũa lên bát cơm, đặt cùng với chiếc khóa trường mệnh trước cửa nhà ông ấy, ông ấy sẽ tự hiểu ý. Nếu ông ấy chịu nhận bát cơm, thì coi như việc đã thành, chiếc khóa trường mệnh này tự nhiên ông ấy cũng sẽ khóa lại cho. Khóa trường mệnh phải do chính tay cha nuôi khóa lại mới có tác dụng tránh tai ương, kéo dài tuổi thọ, gặp dữ hóa lành. Đến lúc đó cô đeo khóa cho con gái, mạng con bé coi như đã được giữ lại. Có người đó làm cha nuôi, con gái cô sẽ được cứu."

Ngừng một lát, Cô Lý nói tiếp: "Chỉ có điều nhận cha nuôi này cũng không phải nhận không đâu. Ngày lễ tết, cô đừng quên dắt con gái đến thăm ông ấy, thắp cho ông ấy vài nén hương là được."

Tú Chi nghe đến đây thì hơi hồ nghi, ma quỷ mới cần thắp hương chứ? Người sống sao lại thắp hương? Nhưng cô cũng không nghĩ nhiều, dắt con gái cầm đồ đạc lên đường. Đi mãi không biết bao lâu, cho đến khi trời dần tối đen, Tú Chi cuối cùng cũng nhìn thấy một ngôi làng hoang vắng hiện ra phía trước, chắc là ngôi làng Cô Lý nói.

Vào đến làng, Tú Chi thấy có gì đó sai sai. Ngôi làng này quái dị vô cùng, dưới chân lá rụng đầy đường, hai bên đường cỏ dại mọc cao đến nửa người, chẳng có ai dọn dẹp, tạo cảm giác hoang vu, tiêu điều.

Làng này không có người ở sao? Tú Chi lấy làm lạ, tiếp tục đi về phía trước. Xung quanh có rất nhiều cây khô bị lột vỏ và những ngôi nhà rách nát, dường như đã lâu không có người ở. Nhưng kỳ lạ thay, trong mỗi ngôi nhà đều thắp nến, ánh nến chập chờn hắt lên giấy dán cửa sổ, lúc tỏ lúc mờ, chao đảo liên hồi, nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng người. Ánh nến ma quái khiến Tú Chi trong lòng cũng bắt đầu bất an. Cả một ngôi làng rộng lớn mà không một tiếng động, không tiếng người, không tiếng ch.ó sủa, tĩnh mịch đến đáng sợ.

"Lạ thật, người trong làng đâu hết rồi?" Tú Chi lẩm bẩm, rón rén đi tiếp. Một lúc sau, quả nhiên cô nhìn thấy một cây hòe lớn, vỏ cây cũng bị lột sạch. Sau cây hòe có mấy gian nhà đất lợp ngói, một gian trong số đó thắp nến, cửa đóng then cài.

"Chắc là nhà này rồi." Tú Chi tiến lên gõ cửa, rồi làm theo lời Cô Lý dặn, cắm đũa vào bát cơm, đặt cùng chiếc khóa trường mệnh trước cửa.

Chẳng bao lâu sau, trong nhà truyền ra tiếng ho khan của người già. Tú Chi thấy trên giấy dán cửa sổ hiện lên hai bóng người, lưng còng xuống, có vẻ là một đôi vợ chồng già, một ông lão và một bà lão.

Ông lão thò tay qua khe cửa lấy bát cơm và chiếc khóa vào trong nhà. Ông ta bưng bát cơm lên ngửi lấy ngửi để, có vẻ đói lắm. Bà lão dường như không vui, mắng ông ta tham ăn, bảo đừng có ăn, trả lại bát cơm đi, kẻo rước họa vào thân. Giọng bà lão rất lạ, the thé, bồng bềnh như gió thoảng, nghe rất khó chịu.

Ông lão mặc kệ lời bà lão, vẫn bưng bát cơm ngửi mãi. Ngửi một lúc thì ợ một cái rõ to, như thể đã ăn no rồi, đặt bát xuống, rồi ném chiếc khóa trường mệnh qua khe cửa ra ngoài. Tú Chi nhặt lên xem, thấy khóa đã được bấm lại. Cô biết việc đã thành, bèn đeo khóa lên cổ con gái. Vừa định đi thì trong nhà bỗng vọng ra tiếng nói, là giọng của ông lão.

Ông lão bảo, đã nhận làm cha nuôi rồi thì hôm nay đừng đi nữa, ngôi làng này không yên ổn đâu, đêm đến có nhiều hồ ly ch.ó hoang lắm, hai mẹ con cứ ở lại đây ngủ một đêm đi!

Đêm hôm khuya khoắt, Tú Chi cũng sợ đi đường đêm gặp nguy hiểm. Tuy cô thấy hai ông bà già này rất kỳ quặc, thậm chí cả cái làng này cũng toát lên vẻ quái dị, nhưng dù sao cũng là do Cô Lý chỉ đến, chắc họ cũng không phải người xấu.

Thế là cô nhận lời, đẩy cửa bước vào. Nhưng lạ thay, hai ông bà già đã biến mất tăm. Cô gọi mấy tiếng cũng chẳng ai thưa. Tú Chi đoán chắc họ đi ra cửa sau rồi, thầm nghĩ hai người này đúng là quái gở, giữ khách lại ngủ mà chủ nhà lại bỏ đi đâu mất. Nhưng cô cũng không nghĩ ngợi nhiều, thấy trong nhà có cái giường đất, bèn cùng con gái leo lên ngủ.

Đêm đó cô ngủ mơ mơ màng màng, loáng thoáng nghe thấy tiếng loảng xoảng, binh bốp như có người đ.á.n.h nhau, âm thanh ồn ào hỗn loạn, dường như có rất nhiều người. Tiếng động kéo dài quá nửa đêm mới dần im bặt. Tú Chi cứ nghĩ là tiếng gió bên ngoài nên cũng không để tâm.

Sáng hôm sau, Tú Chi tỉnh dậy thấy hơi lạnh, gió thổi phần phật khiến cô nổi da gà. Mở mắt ra nhìn, cô sững sờ, c.h.ế.t lặng. Cô đâu có nằm trong nhà, mà đang nằm giữa đồng không m.ô.n.g quạnh. Xung quanh chẳng có nhà cửa nào sất, nhìn đâu cũng toàn là những nấm mồ hoang. Và hai mẹ con cô, đang nằm ngủ ngay cạnh một nấm mồ hoang lạnh lẽo.

Ngôi mộ hoang ấy chẳng biết tự bao giờ đã bị ai đào xới tung lên, hai cỗ quan tài bên trong bị phá nát, xương cốt vương vãi tứ tung, trắng hếu một màu tang tóc, nhìn vào mà lạnh toát cả sống lưng.

Tú Chi sợ đến tê dại cả da đầu, cô vội vã nắm tay con gái, ba chân bốn cẳng chạy thục mạng. Con gái cô vừa chạy vừa cười khanh khách, tiếng cười trong trẻo mà sao nghe rợn người, khuôn mặt con bé ánh lên một vẻ quỷ dị khiến Tú Chi không kìm được rùng mình. Cô hoảng hốt nhận ra chiếc khóa trường mệnh đeo trên cổ con gái đã đứt lìa từ lúc nào, nỗi kinh hoàng trong lòng càng dâng lên tột độ.

Tùy chỉnh hiển thị

18px
1.8