Tá Âm Tự
Chương 4
Ngày hôm sau, ta y lời mà dọn về Thôi gia.
Cha mẹ thấy ta trở về, vừa kinh vừa hỷ, nắm tay ta hỏi han đủ điều. Ta chỉ nói duyên nợ phu thê với Bùi Tranh đã tận, muốn hòa ly.
Cha ta giận đến mức định lập tức đến Hầu phủ đòi lại công đạo, nhưng bị mẹ cản lại: “Hòa ly thì hòa ly, nữ nhi Thôi gia ta tuyệt không thèm chịu loại khí tiết hèn mọn đó!”
Ba ngày sau, Bùi Tranh tìm đến Thôi gia. Hắn tiều tụy đi nhiều, hốc mắt đen kịt, râu ria lởm chởm không cạo, trông như già đi mười tuổi.
Ả ngoại thất Liễu Kim Hòa nghe nói trước khi hắn đến đây đã bị đuổi đi rồi. Chẳng vì lý do gì khác, mà là vì ả đã phát điên.
Kể từ đêm đó, Liễu Kim Hòa ngày ngày thấy quỷ. Đêm không thể chợp mắt, ngày không dám ra khỏi cửa, suốt buổi trốn trong phòng lẩm bẩm: “Bảo nhi đừng tìm ta”, “không phải ta hại ngươi”.
Bùi Tranh sợ ả mạo phạm quý nhân, lại chê ả xui xẻo, liền quăng một tờ hưu thư đuổi khỏi phủ, mặc ả tự sinh tự diệt.
Nay hắn đến Thôi gia là để cầu ta quay về.
“Thôi Uyển, ta biết lỗi rồi, nàng hãy về đi.”
Hắn quỳ trước mặt ta, nước mắt nước mũi giàn giụa.
“Hầu phủ không thể thiếu nàng, không có nàng, Hầu phủ coi như xong đời.”
Ta bưng chén trà, thong thả nhấp một ngụm: “Hầu phủ xong đời thì can hệ gì đến ta?”
“Nàng… nàng là thê t.ử ta cưới hỏi đàng hoàng!”
“Thế sao?” Ta cười lạnh: “Khi thi hài nhi t.ử ta được vớt lên từ hồ, ngươi có nhớ ta là thê t.ử cưới hỏi đàng hoàng không?”
Sắc mặt Bùi Tranh cứng đờ.
Ta tiếp lời: “Khi ngươi vứt nó ra bãi tha ma cho ch.ó ăn, khi ngươi để đứa dã chủng kia nhận tổ quy tông, ngươi có nhớ ta là thê t.ử cưới hỏi đàng hoàng của ngươi không?”
Ba câu hỏi liên tiếp khiến Bùi Tranh á khẩu. Hắn há miệng, hồi lâu mới nặn ra một câu: “Nghịch t.ử đó, là nó đẩy Thế t.ử trước…”
“Đủ rồi.” Ta đặt mạnh chén trà xuống bàn.
“Bùi Tranh, ngươi không cần giải thích, ta cũng chẳng muốn nghe. Hòa ly thư ta đã ký sẵn, ngươi ấn dấu tay vào, từ nay về sau nước sông không phạm nước giếng.”
Bùi Tranh nhìn tờ hòa ly thư trên bàn, mặt hết xanh lại trắng. Hắn bỗng đứng bật dậy, chỉ thẳng vào mặt ta mà mắng:
“Thôi Uyển, ngươi đừng có không biết điều! Ngươi tưởng Thôi gia vẫn là Thôi gia của ngày xưa sao? Nhà ngươi sớm đã lụi bại rồi, không có Hầu phủ chống lưng, các người tính là cái thứ gì!”
Ta nhìn hắn, chậm rãi mỉm cười: “Bùi Tranh, ngươi nói đúng, Thôi gia quả thực lụi bại. Nhưng Thôi Uyển ta dù có khốn khổ thế nào, cũng tuyệt không gả cho hạng súc sinh tự tay g.i.ế.c con.”
Bùi Tranh bị ta mắng đến mức toàn thân run rẩy, giơ tay định tát ta. Tay vừa mới nhấc lên bỗng khựng lại giữa không trung.
Mặt hắn trong nháy mắt trở nên trắng bệch, mắt trợn trừng nhìn trân trân vào phía sau lưng ta, như thể thấy thứ gì đó cực kỳ khủng khiếp.
Ta ngoảnh lại nhìn, chẳng có gì cả. Thế nhưng Bùi Tranh lại như bị rút cạn sức lực, “bịch” một tiếng quỳ sụp xuống đất, trán chạm sàn, người run như cầy sấy, miệng cứ lặp đi lặp lại: “Tổ tông tha mạng, tổ tông tha mạng…”
Ta thu hồi ánh mắt, cầm lấy tờ hòa ly thư đi tới trước mặt hắn: “Ấn dấu tay.”
Hắn run rẩy đưa tay ấn xuống dấu vân tay đỏ ch.ót. Ta cất tờ giấy đi, chẳng thèm liếc nhìn hắn lấy một cái, xoay người vào nội thất.
Phía sau truyền đến tiếng hét thất thanh kinh hãi của Bùi Tranh và tiếng đổ vỡ của thứ gì đó. Ta không hề ngoảnh đầu.
Sau khi hòa ly, ta sống tại Thôi gia.
Cha mẹ thương ta, chưa bao giờ giục ta tái giá, chỉ để ta an tâm tịnh dưỡng. Lúc rảnh rỗi, ta thường lên chùa ngoại thành thắp hương, coi như để khuây khỏa tâm hồn.
Ngôi chùa đó không lớn, hương hỏa chẳng mấy thịnh, nhưng được cái thanh tĩnh. Trụ trì là một lão hòa thượng tóc râu bạc phơ, diện mạo từ bi.
Ta đến nhiều, thỉnh thoảng ngài cũng hàn huyên với ta vài câu.
Có một ngày, ngài bỗng hỏi ta: “Thí chủ còn nhớ lão nạp không?”
Ta nhìn kỹ gương mặt ngài rồi lắc đầu. Ngài mỉm cười, từ trong tay áo lấy ra một tờ sớ quẻ đã ngả vàng.
“Năm Thiên Giáp thứ mười ba, Thôi gia từng tìm lão nạp gieo một quẻ.”
Ta sững người, nhìn kỹ sớ quẻ ấy — Đại hung. Bùi gia tổ tông bốc hắc khí, ba đời tất tuyệt tự. Hóa ra chính là vị đại sư năm xưa.
Ta vội vàng hành lễ: “Hóa ra là đại sư, năm đó đa tạ ngài đã chỉ điểm.”
Lão hòa thượng xua tay: “Lão nạp chỉ nói sự thật mà thôi. Ngược lại là thí chủ, những năm qua đã chịu khổ rồi.”
Ta cười khổ: “Đều đã qua cả rồi.”
Lão hòa thượng nhìn xuống bụng ta, chợt nói: “Thí chủ gần đây có nằm mộng thấy gì không?”
Lòng ta khẽ động, nhớ lại lời Hành nhi nói đêm đó.
“Đại sư, ngài… nhìn thấy gì sao?”
Lão hòa thượng cười mà không đáp, chỉ để lại một câu:
“Duyên khởi duyên diệt, duyên tụ duyên tán. Thứ gì đến, ắt sẽ đến.”
Nói rồi, ngài xoay người rời đi, để mình ta đứng ngẩn ngơ tại chỗ.
Không lâu sau, ta chiêu một phu quân ở rể, rất nhanh sau đó phát hiện mình đã mang thai. Đại phu chẩn mạch, mặt mày hớn hở chúc mừng.
Ta không mấy bất ngờ, chỉ nhẹ nhàng xoa bụng, thấp giọng nói một câu: “Hành nhi, mừng con quay về.”
Thai này khác hẳn với lúc mang Hành nhi năm xưa. Khi ấy ngày nào bụng cũng đau như cắt, như mang một khối băng lạnh.
Giờ đây chỉ thấy ấm áp an yên, tựa như trong bụng đang ôm một lò sưởi nhỏ. Ta ăn uống rất tốt, khí sắc hồng nhuận, đến nỗi mẹ cũng nói ta như thay da đổi thịt.
Mười tháng mang thai, một sớm khai hoa nở nhụy. Đêm đó ta bỗng trở dạ, vật lộn nửa đêm cuối cùng cũng sinh được một đứa con trai.
Đứa trẻ chào đời không khóc không nháo, mở đôi mắt đen láy tròn xoe nhìn thẳng vào ta. Sau đó, nó nhe răng cười.
Nụ cười ấy y hệt như Hành nhi đã gọi ta là mẹ trong căn phòng đêm đó.
Ta ôm lấy nó, nước mắt không ngừng rơi xuống.
“Hành nhi…”
Nó đưa bàn tay nhỏ bé khẽ chạm vào mặt ta. Cảm giác ấy ấm nóng, mềm mại, mang theo mùi sữa đặc trưng của trẻ thơ.
Không phải cái lạnh buốt của đêm hôm ấy.
Đây là hơi ấm sống động, thuộc về nhân thế gian này.