Lật Ngược Ván Cờ
Chương 1
Thành Vĩnh An vào mùa mưa, dường như dài dằng dặc hơn mọi năm.
Tổ phụ ta là người giữ lăng của hoàng gia, cả đời ở dưới chân Bắc Mang sơn, trông coi lăng tẩm của Thái Tổ hoàng đế.
Người giữ lăng không tính là quan, cũng chẳng tính là dân, là một nghề nằm giữa âm và dương.
Người sống thắp đèn cho người c.h.ế.t, người c.h.ế.t thay người sống chắn tai ương.
Tổ phụ nói, người giữ lăng có ba điều cấm kỵ: không được tắt đèn, không được quay đầu, không được hỏi chuyện trong lăng.
Ông giữ lăng bốn mươi năm, chưa từng phạm một điều nào.
Nhưng điều đầu tiên ông dạy ta, lại là cách tắt đèn.
"A Đường, một ngọn đèn có bảy mươi hai cách tắt. Gió tắt, nước tắt, dầu cạn mà tắt, ấy là trời tắt. Còn có dùng ngón tay tắt, dùng lòng bàn tay tắt, dùng tay áo tắt, ấy là người tắt. Trời tắt thì vô tội, người tắt thì có nhân. Con nếu muốn tắt một ngọn đèn, trước hết phải nghĩ cho rõ, con có gánh nổi cái nhân ấy hay không."
Khi đó ta mới sáu tuổi, ngồi xổm ở cửa lối vào lăng đạo, trong tay nắm một sợi bấc đèn chưa châm, nghe mà nửa hiểu nửa không.
Tổ phụ họ Ân, tên một chữ là Thủ.
Cả đời ông đắc ý nhất không phải là giữ lăng Thái Tổ bốn mươi năm, mà là sinh được một nhi t.ử tốt.
Phụ thân ta tên Ân Độ Chu, mười sáu tuổi đã được tuyển vào cung, chuyên điều chế dầu đèn ngự dụng cho Cao Tông Đế.
Đèn trong cung khác với đèn trong lăng.
Đèn trong lăng phải cháy mãi không tắt, đèn trong cung thì sáng tối tùy tâm.
Dầu đèn do phụ thân điều chế, khi cháy không khói không mùi, nhưng ngọn lửa lại có thể theo gió đổi màu, được Cao Tông khen là "hoạt hỏa".
Năm Cao Tông băng hà, phụ thân chủ động xin đi giữ Cao Tông lăng.
Ông nói cả đời mình chỉ biết thắp đèn, Cao Tông có ân với ông, ông muốn thay Cao Tông giữ lăng cả đời.
Trong triều chẳng ai để ý chuyện một kẻ giữ lăng đi hay ở.
Nhưng Thái hậu thì để ý.
Hoàng hậu của Cao Tông, nay là Thiệu Thái hậu, ngày phụ thân rời cung, sai người mang đến một chiếc đèn lưu ly.
Đèn là đèn tốt, khảm dạ minh châu Nam Hải, nghe nói là vật Cao Tông khi còn sống yêu thích nhất.
Phụ thân nhận đèn, nhưng không thắp.
Ông đặt chiếc đèn ấy ở nơi sâu nhất trong Cao Tông lăng, rồi nói với ta:
"Ngọn đèn này không thể thắp. Thắp lên, tức là thay bà ta chuộc tội."
Ta hỏi ông, Thái hậu đã phạm tội gì.
Phụ thân trầm mặc rất lâu, lâu đến nỗi những ngọn đèn trường minh trong lăng đạo nhảy lửa ba lần.
"Chính bà ta đã g.i.ế.t mẹ con."
Mẫu thân ta họ Liễu, tên là Liễu Hành Chỉ.
Bà không phải nữ nhi của nhà giữ lăng, mà là đích tôn nữ của Thái phó tiền triều Liễu Diễn.
Liễu gia cả nhà thanh quý, lấy thi thư truyền đời, đến triều Cao Tông thì quan chức đạt tới cực phẩm.
Nhưng sau khi Cao Tông băng hà, Liễu gia chỉ trong một đêm đã bị tịch thu gia sản, c.h.é.m g.i.ế.t gần như sạch sẽ.
Tội danh là mưu phản.
Khi đó mẫu thân ta đã gả cho phụ thân, theo luật không nằm trong danh sách bị liên lụy.
Nhưng bà vẫn c.h.ế.t.
C.h.ế.t trong một trận hỏa hoạn.
Trận lửa ấy thiêu rụi nơi ở của những người giữ lăng dưới chân Bắc Mang sơn.
Quan phủ nói là dầu đèn bén lửa, ngoài ý muốn mà cháy.
Khi tổ phụ bế ta ra khỏi đám cháy, ta mới ba tuổi.
T.h.i t.h.ể của mẫu thân cũng không tìm đủ.
Tổ phụ nói, đó không phải là t.a.i n.ạ.n ngoài ý muốn.
Người giữ lăng cả đời làm việc với dầu đèn, sao có thể bị dầu đèn thiêu c.h.ế.t?
Phụ thân không truy xét.
Từ đó về sau, ông cũng không còn điều chế dầu đèn nữa.
Ông canh giữ Cao Tông lăng, ngày qua ngày thêm dầu, cắt bấc, lau chụp đèn, giống như một pho tượng đá biết thở.
Cho đến năm ta mười bốn tuổi, ông gọi ta vào nơi sâu trong lăng đạo, chỉ vào chiếc đèn lưu ly chưa từng được thắp.
"A Đường, ta dạy con điều dầu."
Ông dạy ta suốt ba năm.
Trong ba năm ấy, ta học được bảy mươi hai loại dầu đèn.
Trong đó có một loại gọi là "Hàn Chiếu".
Dầu Hàn Chiếu khi cháy giống hệt dầu đèn bình thường, nhưng khói của nó là vô sắc.
Hít vào phế phủ, trong vòng ba tháng, ngũ tạng sẽ dần dần lạnh đi, giống như có một ngọn đèn từ bên trong bị tắt dần từng chút một.
Lúc c.h.ế.t không đau không cảm giác.
Ngỗ tác cũng không nghiệm ra độc, chỉ cho là bệnh cũ tái phát, dầu cạn đèn tàn.
Đêm phụ thân dạy ta xong phương dầu cuối cùng, ông quỳ thật lâu trước Cao Tông lăng.
"Bệ hạ, thần vô năng, chỉ có thể dạy nó những thứ này."
Sáng sớm hôm sau, ta phát hiện phụ thân c.h.ế.t trong lăng đạo.
Ông tự tay tắt đèn.
Thủ pháp là cách thứ ba mươi bảy, bóp tắt.
Dùng ngón cái và ngón trỏ kẹp lấy bấc đèn, ép tắt.
Đầu ngón tay ông bị cháy đen, nhưng gương mặt lại an tĩnh.
Khi tổ phụ khâm liệm cho ông, từ trong n.g.ự.c ông tìm ra một phong thư.
Trong thư chỉ có một câu:
Hai trăm mười ba mạng người của Liễu gia, đều c.h.ế.t dưới tay một mình Thiệu thị.
Ta quỳ trước linh cữu phụ thân, đốt bức thư ấy.
Tro giấy bay lên, giống như một đàn đom đóm không tìm được nơi trở về.
Tổ phụ đứng sau lưng ta: "A Đường, con định làm thế nào?"
Ta nói: "Con muốn vào cung."
Tổ phụ trầm mặc một lúc: "Vào cung thì dễ, ra ngoài lại khó."
Ta quay đầu nhìn ông, ánh lửa chiếu lên gương mặt ta: "Tổ phụ, con không định ra ngoài."
Con đường vào cung, lại dễ dàng hơn ta tưởng.
Thiệu Thái hậu cực kỳ tin Phật đạo, mỗi mồng một và ngày rằm đều lập đàn cầu phúc tại Từ An điện.
Cầu phúc cần thắp đèn trường minh, mà đèn trường minh thì phải dùng dầu tốt.
Thợ điều chế dầu đèn trong cung thay hết người này đến người khác, nhưng không ai điều ra được “hoạt hỏa” như năm xưa của Ân Độ Chu.
Vì chuyện này Thái hậu đã nổi giận nhiều lần, thậm chí còn sai người đến Bắc Mang sơn mời phụ thân ta trở lại.
Người đi về bẩm rằng: Ân Độ Chu đã c.h.ế.t, chỉ còn lại một lão nhân và một cô nương.
Thái hậu không hỏi thêm nữa.
Nhưng ta đã chờ được một con đường khác.
Ở thành Vĩnh An có một cửa hiệu tên “Minh Chúc phường”, chuyên cung cấp dầu đèn cho hoàng cung.
Phường chủ họ Hạ, tên Hạ Lan Quân, là một nữ nhân hơn ba mươi tuổi, phu quân mất sớm, một mình quản lý cửa tiệm.
Dầu đèn của nàng ở thành Vĩnh An được coi là thượng hạng, nhưng so với tay nghề của phụ thân ta thì vẫn còn kém xa.
Ta cõng một giỏ dầu đèn do chính mình điều chế, đứng trước cửa Minh Chúc phường, chờ suốt ba ngày.
Ngày thứ nhất, tiểu nhị đuổi ta đi.
Ngày thứ hai, tiểu nhị lại đuổi ta đi.
Ngày thứ ba, Hạ Lan Quân tự mình ra ngoài.
Nàng mặc áo tay hẹp màu lam chàm, cổ tay dính vết dầu, tóc b.úi tùy ý, giữa đôi mày có vẻ trầm tĩnh của người đã quen với khói lửa.
“Ngươi là nữ nhi của Ân Độ Chu?”
Ta gật đầu.
Nàng nhìn giỏ sau lưng ta: “Thắp một ngọn cho ta xem.”
Ta lấy từ trong giỏ ra một bình dầu nhỏ, rót vào chiếc đèn đá trước cửa hiệu của nàng, rồi dùng *hỏa chiết t.ử châm lửa.
(*hỏa chiết t.ử: bật lửa thời cổ đại)
Ban đầu ngọn lửa là màu cam bình thường, nhưng khi gió thổi qua, màu sắc bắt đầu biến đổi.
Trước là xanh biếc nhạt, sau là vàng ngỗng, cuối cùng thành một màu xanh trắng cực nhạt, giống như ánh trăng rơi trên tuyết.
Hạ Lan Quân nhìn chằm chằm ngọn đèn ấy rất lâu.
Tiểu nhị trong hiệu cũng vây lại, có người đưa tay thử nhiệt độ, liền bị nàng tát một cái hất ra.
“Đừng chạm vào.”
Nàng ngồi xuống, ghé gần ngửi thử.
“Không khói, không mùi, ngọn lửa theo gió đổi màu… đây là hoạt hỏa.”
Nàng đứng dậy, từ trên xuống dưới đ.á.n.h giá ta.
“Ngươi bao nhiêu tuổi?”
“Mười bảy.”
“Cha ngươi dạy?”
“Phải.”
Nàng trầm mặc một lúc, rồi quay người bước vào trong tiệm: “Vào đi.”
Hạ Lan Quân thu nhận ta.
Nàng không hỏi vì sao ta đến thành Vĩnh An, cũng không hỏi phụ thân ta c.h.ế.t thế nào.
Chỉ cho ta ở lại hậu viện của tiệm, mỗi ngày điều dầu, theo yêu cầu của nàng cung cấp cho các phủ đệ.
Nhưng nàng không cho ta chạm vào đơn hàng trong hoàng cung.
“Dầu đèn trong cung, mỗi bình đều phải qua ba lần kiểm tra. Kiểm màu, kiểm mùi, kiểm khói. Dầu của ngươi quá tốt, tốt đến mức khiến người ta sinh nghi.”
Ta hiểu ý nàng.
Nữ nhi của Ân Độ Chu đột nhiên xuất hiện trong cửa hiệu cung cấp dầu cho hoàng cung, bản thân chuyện ấy đã đáng để cảnh giác.
Ta không vội.
Ta ở Minh Chúc phường suốt một năm tròn, thay Hạ Lan Quân điều hơn ngàn bình dầu đèn, chưa từng chủ động nhắc tới chuyện vào cung.
Trong một năm ấy, ta đã thăm dò rõ ràng mặt nước và đáy nước của thành Vĩnh An.
Trên mặt nước là thiếu đế Tiêu Hành đăng cơ đã ba năm, Thiệu Thái hậu buông rèm nhiếp chính, ngoại thích họ Thiệu nắm giữ triều đình.
Dưới đáy nước là sóng ngầm cuồn cuộn.
Thiếu đế năm nay mười sáu tuổi, tính tình âm trầm, không ôn hòa như phụ thân hắn là Cao Tông.
Trên triều hắn chưa từng tranh chấp với Thái hậu, sau khi bãi triều cũng không đến Từ An điện thỉnh an, chỉ ở trong T.ử Thần điện của mình.
Nghe nói suốt ngày bày cờ, một mình tự đ.á.n.h với chính mình.
Trong triều hiện có ba thế lực.
Thứ nhất là nhà mẹ đẻ của Thái hậu, nhà họ Thiệu.
Huynh trưởng của Thiệu Thái hậu là Thiệu Hành Chi giữ chức Thái úy, nắm binh mã kinh kỳ, con cháu họ Thiệu trải khắp Lục bộ, rễ sâu nhánh rậm.
Thứ hai là cựu thần của tiên đế, đứng đầu là Ngự sử trung thừa Bùi Kinh Trập.
Bùi Kinh Trập là trạng nguyên triều Cao Tông, làm người cương trực.
Ba năm qua đã đàn hặc nhà họ Thiệu mười bảy lần, lần nào cũng bị Thái hậu ép xuống.
Nhưng ông vẫn còn sống, bởi sau lưng ông là cả một tầng lớp sĩ tộc thanh lưu.
G.i.ế.c một mình ông, sẽ lay động toàn bộ giới quan văn.
Thứ ba là các phiên trấn.
Khi Cao Tông còn tại vị, triều đình đã phân phong bốn trấn, trong đó mạnh nhất là Lương Châu trấn ở Tây Bắc, trấn thủ sứ tên là Dung Dữ.
Người này gần bốn mươi tuổi, trong tay nắm tám vạn biên quân, thái độ với triều đình mập mờ khó đoán.
Mà tội danh năm xưa của ngoại tổ phụ ta, Liễu Diễn, là tội mưu phản, nghe nói chính là có qua lại bí mật với Lương Châu trấn.