Vòng Lăp Người Giữ Làng
Chương 3

Cập nhật lúc: 2026-04-17 23:27:23 | Lượt xem: 2

Tôi đ.á.n.h bạo bắt chuyện với bọn họ nhiều hơn, hỏi han vì sao họ cứ lặp đi lặp lại những công việc giống nhau.

Thím Vương mỉm cười đáp: "Thì ngày tháng cứ trôi qua như thế này mà."

Bác Lý lại nói: "Sống ở đời, kiểu gì cũng phải bới việc ra mà làm chứ."

Câu trả lời của họ kín kẽ đến mức không thể bắt bẻ, nhưng lại khiến tôi càng thêm rợn tóc gáy.

Tôi bắt đầu hoài nghi không biết bọn họ rốt cuộc có phải là người hay không.

Tôi lấy hết can đảm, lợi dụng lúc người phụ nữ tên thím Lưu đem cơm đến, vờ như vô ý chạm nhẹ vào tay bà ta một cái.

Lạnh ngắt, đơ cứng, hệt như một hòn đá lạnh.

Tôi rụt phắt tay lại, nụ cười trên mặt thím Lưu vẫn rập khuôn nguyên xi như cũ, coi như chẳng có chuyện gì xảy ra, đặt cà mèn cơm xuống rồi quay lưng đi thẳng.

Sống lưng tôi thoắt cái đã túa đầy mồ hôi lạnh ướt đẫm.

Đến lúc này tôi mới ngộ ra rằng, công việc của tôi không phải là giữ làng, mà là sinh sống cùng với một đám… "thứ gì đó".

Ngày ngày tôi tự giam lỏng mình trong cái sân này, lắng nghe những âm thanh nhịp nhàng không hồi kết vọng vào từ bên ngoài, có cảm giác bản thân mình sắp hóa điên rồi.

Niềm an ủi duy nhất níu giữ tôi là chiếc điện thoại cục gạch kia.

Từng ngày tôi mòn mỏi ngóng trông nó đổ chuông, nhưng nó chưa từng reo lên một tiếng nào.

Cứ như vậy, tôi dằn vặt vượt qua năm đầu tiên trong sự sợ hãi và giày vò tột độ.

4.

Bước sang năm thứ hai, tình cảnh lại trở nên quỷ dị hơn.

Tôi bắt đầu thích nghi với sự tịch liêu của làng và vở kịch cứng nhắc của những người dân nơi đây.

Để bản thân không phát rồ, tôi xới đất trồng rau ngoài vườn.

Tôi cuốc đất, gieo hạt, tưới tắm.

Khi dân làng đi ngang qua, bọn họ sẽ nán lại nhìn tôi, nụ cười trên môi vẫn công nghiệp hệt như trước, nhưng trong ánh mắt dường như lại pha lẫn thêm thứ cảm xúc gì đó mập mờ.

Một ngày nọ, trưởng làng tìm đến tôi.

Trưởng làng trông trạc ngoài sáu mươi tuổi, tên là Triệu Lập, dáng dấp gầy gò ốm nhom nhưng lại minh mẫn quắc thước đến mức khó tin, lưng lúc nào cũng thẳng tắp.

Ông ta đứng chôn chân trước luống rau của tôi, nhìn chằm chằm vào những cây cà chua, dưa chuột tôi vun trồng, trên gương mặt lần đầu tiên hiện lên biểu cảm vượt ra khỏi cái nụ cười công nghiệp kia.

Đó là một trạng thái vô cùng phức tạp đan xen giữa hoài niệm và châm biếm.

"Đã lâu lắm rồi… chưa từng nhìn thấy những thứ này."

Ông ta từ tốn nhả từng chữ, chất giọng the thé như phát ra từ một cái giếng cạn.

"Trong làng không trồng trọt gì sao ạ?" Tôi thăm dò cẩn thận.

Ông ta lắc đầu: "Trồng không được. Chúng tôi… không trồng ra được sinh vật sống."

Bụng tôi đ.á.n.h thót một cái, bàng hoàng cúi đầu nhìn những luống rau đang mọc lên xanh mơn mởn.

"Cậu thì khác." Ông ta dường như đọc thấu tâm can tôi.

Hôm ấy, ông ta nán lại tâm sự cùng tôi rất nhiều.

Ông ta bảo, những quy củ của làng Âm Sơn đều là muốn tốt cho mọi người, chỉ cần tôi biết giữ phận an bài, hết hạn ba năm, ắt sẽ để tôi bình an rời đi.

Lời của ông ta nửa là dỗ dành xoa dịu, nửa lại mang hàm ý răn đe.

Lúc chuẩn bị kết thúc câu chuyện, ông ta găm c.h.ặ.t ánh mắt vào tôi thốt lên:

"Người trẻ tuổi, tò mò quá đáng không phải là chuyện tốt. Có những cánh cửa dù không khóa, cũng không có nghĩa là cậu được phép tự tiện đẩy ra."

Nơi ông ta nhắc tới chính là từ đường họ Triệu ở phía Tây của làng.

Đây là nơi sặc mùi thần bí nhất của ngôi làng, quanh năm suốt tháng cổng đóng then cài kín mít.

Mỗi ngày, đợi sau khi quá trình "lao động" kết thúc, tất thảy dân làng đều nối đuôi nhau lầm lũi đi vào trong từ đường, rồi cánh cổng lớn đóng sầm lại.

Mãi cho đến tận tảng sáng tinh sương hôm sau bọn họ mới lũ lượt đi ra ngoài, lại trở về với "vị trí" của riêng mình.

Nơi đó, chẳng khác nào "phòng sạc pin" hay "nhà xác" của bọn họ.

Tôi vẫn luôn nung nấu ý định rình mò xem bên trong rốt cuộc có thứ gì, nhưng những lời nói sắc như d.a.o của trưởng làng đã dập tắt cái ý đồ ấy.

Thế nhưng, dẫu bạn không chủ động tìm rắc rối, thì rắc rối cũng sẽ tự tìm đến bạn.

Mùa thu của năm thứ hai, làng phải tổ chức lễ hội.

Tôi chẳng biết đó là nghi lễ gì, trưởng làng chỉ thông báo cho tôi, đêm đó nhà nhà hộ hộ đều bắt buộc phải thắp đèn l.ồ.ng đỏ trước cửa.

Toàn bộ mọi người, bao gồm cả tôi, đều phải ngoan ngoãn nằm rịt trong nhà không được bén mảng ra ngoài, cấm phát ra bất cứ âm thanh nào, lại càng tuyệt đối cấm không được nhìn lén ra ngoài.

"Bất kể nghe thấy âm thanh gì, nhìn thấy sự vật gì, cứ coi như bản thân chưa hề hay biết."

Ông ta trừng mắt đe dọa tôi một cách dữ dội, bảo đó là cái quy củ tối kỵ nhất của làng Âm Sơn.

Hoàng hôn hôm ấy, bầu trời âm u xám xịt đến rợn người.

Đám dân làng thu dọn công cụ xong không rẽ bước vào trong từ đường như mọi hôm, mà tự tản mác trở về nhà mình.

Rất nhanh sau đó, trước cửa mỗi nhà đều treo tòng teng một chiếc đèn l.ồ.ng màu đỏ thắm.

Dưới bầu trời ảm đạm, ánh sáng le lói hắt ra từ những chiếc đèn l.ồ.ng đỏ ấy lại trông ma quái đến lạ thường, y hệt những nhãn cầu đang rỏ m.á.u tươi.

Tôi chốt trái cửa tự nhốt mình trong nhà, trùm chăn kín mít từ đầu tới chân, trong lòng kinh hãi đến c.h.ế.t đi sống lại.

Chập choạng lúc nửa đêm, bên ngoài chợt vẳng lại âm thanh lạ.

Lại chẳng phải là cái thứ thanh âm đều đặn, cứng nhắc mà tôi vẫn nghe hằng ngày.

Mà là một tiếng cọ xát rề rà, kỳ dị, cứ như thể có kẻ nào đó đang mang một đôi giày ướt nhẹp lê bước nhọc nhằn trên con đường đá.

Không phải, không phải là một người, mà là một đám người.

Đám âm thanh ấy lếch thếch tiến lại từ đằng xa, rồi đột ngột khựng lại ngay trước cửa khoảng sân nhà tôi.

Tôi cảm nhận được rõ mồn một, dường như có một vật thể nào đó đang đứng chực chờ ngay bên ngoài.

Tôi nín thở, l.ồ.ng n.g.ự.c đập thình thịch như muốn vọt tung ra ngoài.

Kế đó, tôi nghe thấy văng vẳng một giai điệu.

Chẳng phải cái điệu hát u ơ không rõ lời mà dân làng vẫn ngân nga ban ngày.

Mà là một bài chú tế lễ cổ xưa và đầy vẻ quỷ dị.

Tùy chỉnh hiển thị

18px
1.8