Vòng Lăp Người Giữ Làng
Chương 4
Âm thanh rợn người ấy chẳng giống thứ phát ra từ thanh quản con người, nó pha lẫn một nét gì đó hư ảo, vừa sắc bén lại trống rỗng.
Xuyên qua lớp giấy dán cửa sổ, tôi nhìn thấy ánh đỏ ch.ói chang lập lòe bên ngoài.
Trí tò mò cuối cùng cũng hạ gục nỗi sợ hãi, tôi rón rén bò khỏi giường xích lại gần cửa sổ, chọc một cái lỗ nhỏ rồi ghé mắt dòm trộm ra ngoài.
Suốt cuộc đời này, điều khiến tôi hối hận bứt rứt nhất chính là việc đã chọc thủng lớp giấy dán cửa sổ đó.
Khắp cái khoảng sân nhỏ, dày đặc nhung nhúc "người".
Vẫn là những gương mặt quen thuộc ấy, bác Trần, thím Vương, bác Lý… ai nấy đều khoác trên người bộ đồ màu đỏ tươi, trên mặt dặm một lớp phấn trắng toát, hai gò má thì đ.á.n.h má hồng lòe loẹt, hệt như những hình nhân bằng giấy trên sân khấu kịch.
Bọn họ xếp thành một vòng tròn, ở giữa khiêng một vật thể dài hình hộp chữ nhật được bọc kín mít bằng lớp vải đen.
Họ vừa nhảy múa vòng quanh cái vật đó, vừa lầm rầm tụng niệm bài hát tế lễ quỷ dị.
Và thứ khiến tôi kinh hoàng bạt vía nhất, chính là gương mặt của bọn họ.
Dưới ánh đỏ rực rỡ từ chiếc đèn l.ồ.ng, "lớp mặt nạ" trên mặt họ dường như đang tan chảy.
Đó không phải nụ cười, cũng chẳng phải bất cứ biểu cảm nào mà một con người bình thường có thể tạo ra.
Khóe miệng của họ ngoác tận tới mang tai, trong hốc mắt chẳng có lấy một chút lòng trắng, chỉ còn trơ trọi hai cái lỗ đen ngòm sâu hoắm.
Ánh mắt bọn họ chằm chặp… đóng đinh vào cửa sổ nhà tôi.
Bọn họ đang nhếch mép cười với tôi.
Dường như đã biết tỏng việc tôi đang dòm trộm từ lâu.
Tôi sợ hãi đến độ hồn bay phách lạc, ngã bệt xuống đất, toàn thân run lẩy bẩy.
Bài tế ca bên ngoài mỗi lúc một rộn rã, the thé ch.ói tai như muốn x.é to.ạc màng nhĩ.
Tôi dùng hai tay bịt kín đôi tai, nhưng mớ âm thanh hỗn độn ấy lại như những con giòi bọ cứ chui tọt thẳng vào não bộ.
Chợt, tôi nhìn thấy ngay trước cái lỗ nhỏ tôi vừa chọc thủng trên giấy dán cửa sổ… từ từ xuất hiện một con mắt.
Một con mắt không có tròng trắng, chỉ đặc quánh một màu đen u tối mịt mùng.
Con mắt ấy áp sát lớp giấy cửa sổ, cứ thế lặng lẽ dán c.h.ặ.t vào tôi.
Tôi suy sụp, vô thức bật ra một tiếng thét nhỏ, rồi ngay lập tức đưa tay tự bịt mồm mình lại.
Trưởng làng đã dặn dò kỹ lưỡng, cấm phát ra bất cứ tiếng động nào.
Đời tôi coi như xong rồi.
Con mắt ma quái ngoài kia dường như bởi tiếng hét của tôi, mà chớp nhẹ một cái đầy vẻ thỏa mãn.
Ngay sau đó, tất cả mọi thanh âm, tiếng hát, tiếng bước chân sột soạt, tất thảy đều bặt tăm.
Thế giới lại một lần nữa chìm vào sự tịch liêu như cõi c.h.ế.t.
Tôi thẫn thờ ngồi bệt trên mặt đất chẳng biết bao lâu, cho đến tận khi trời hửng sáng mới dám dò dẫm đứng dậy.
Cảnh vật bên ngoài lại tái diễn như mọi ngày, bác Trần đục đẽo sửa hàng rào, thím Vương giặt lụa, mọi thứ đều phục hồi lại như quỹ đạo ban đầu.
Như thể những việc xảy ra vào đêm qua, chỉ là một cơn ác mộng dài của riêng mình tôi.
Nhưng tự trong thâm tâm, tôi biết rõ đó chẳng phải giấc mơ.
Trên lớp giấy dán cửa sổ nhà tôi, cái lỗ nhỏ do chính tay tôi chọc thủng đã hoàn toàn biến mất.
Lớp giấy phẳng phiu láng mịn như mới, dường như chưa từng bị rách bao giờ.
Có điều ở ngay tại cái vị trí ấy, lại in hằn một dấu vân tay lờ mờ màu xám đen.
5.
Sau ngày hôm đó, ánh mắt mà đám dân làng ném về phía tôi đã thay đổi hẳn.
Đó là ánh mắt hau háu dán vào một con "con mồi" béo bở.
Trong đầu tôi đã nung nấu ý định bỏ trốn.
Tôi không muốn c.h.ế.t rục xác tại nơi này, càng không muốn phải vùi thây dưới trướng của bọn ma không ra ma quỷ không ra quỷ kia.
Làng tứ bề là núi cao bao bọc, lối đi ra duy nhất, cũng chính là con đường đèo khi tôi đến.
Nhưng cái cổng ngõ đường đèo ấy dường như lại được che chắn bởi một rào cản vô hình nào đó.
Tôi đã thử sức dăm ba lần, cứ hễ lết đến đoạn cách cửa đèo chừng mấy chục mét, là l.ồ.ng n.g.ự.c lại đ.á.n.h trống trận dồn dập, đầu óc quay cuồng xây xẩm, chẳng tài nào nhấc nổi bước chân đi tiếp.
Hệt như thể đụng trúng bức tường cản trở trong trò chơi điện t.ử vậy.
Tôi hiểu rõ, ý đồ trốn chạy bằng rào cản vật lý là bất khả thi.
Ngọn nến hi vọng độc nhất soi sáng tôi, lại nằm ở cái con điện thoại cục gạch cũ mèm kia.
Tôi ra sức khấn vái trời đất, chắp tay cầu nguyện cho lão già đã thuê tôi, hoặc gã tài xế chở tôi tới đây sẽ gọi điện liên lạc.
Song chiếc điện thoại vẫn cứ nằm im lìm bất động.
Trạng thái tinh thần của tôi ngày một sa sút trầm trọng, tôi bắt đầu sinh ra ảo giác.
Cứ luôn luôn mường tượng cảnh lúc tôi đang ngủ say, đám dân làng đó sẽ lũ lượt xúm xít đứng quanh mép giường, dán cặp hố sâu thăm thẳm ấy chằm chằm nhìn tôi.
Tôi sợ hãi chẳng dám nhắm mắt, nhịn tới lúc không ráng nổi nữa mới ngất lịm đi, mỗi ngày chung quy cũng chỉ chợp mắt được đâu cỡ hai, ba tiếng đồng hồ.
Cơ thể gầy xơ gầy xác chỉ còn da bọc xương, hai hốc mắt hõm sâu vào, người ngợm chẳng khác gì một con ma đói.
Một lần nọ, lão trưởng làng Triệu Lập lại cất công ghé thăm tôi.
Lão ta trông thấy cái dáng vẻ thân tàn ma dại của tôi, bèn lắc đầu thở hắt ra.
"Tôi đã cảnh cáo cậu rồi, không được phép sinh lòng tò mò rình mò."
"Bọn người các người rốt cuộc là cái giống loài quái quỷ gì vậy?" Cuối cùng thì tôi cũng chịu hết nổi, vùng vằng quát vào mặt lão.
Lão ta chẳng hề nổi đóa, chỉ điềm nhiên dán c.h.ặ.t mắt vào tôi.
"Chúng tôi là người của làng Âm Sơn."
"Dân làng mà lại không có nổi cái bóng sao!" Tôi trỏ thẳng tay xuống mặt đất ngay phía dưới chân lão ta.
Rõ ràng mặt trời đang soi rọi ch.ói chang, vậy mà dưới chân lão ta cũng hệt như thảy những người dân làng khác, nhẵn thín trống trơn, tuyệt nhiên không có lấy một nét đổ bóng nào.
Trên thực tế tôi đã sớm phát hiện ra vấn đề tày đình này rồi, nhưng vì cõi lòng tràn ngập sự sợ hãi ám ảnh, nên tôi luôn tìm cách lảng tránh không dám đối diện với sự thật ấy.
Tự lừa mình dối người mà đinh ninh rằng, chỉ cần tôi không vạch trần chân tướng sự thật, thì mọi chuyện sẽ tự động êm xuôi.